Sở Xây Dựng Bình Định
60 năm hình thành và phát triển của ngành Xây dựng Việt Nam; 43 năm hình thành và phát triển ngành Xây dựng Bình Định
60 năm hình thành và phát triển của ngành Xây dựng Việt Nam; 43 năm hình thành và phát triển ngành Xây dựng Bình Định

Sở Xây dựng đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba

Ngày 29/4/1958, tại kỳ họp thứ VIII Quốc hội khoá I do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa, đã ban hành Nghị quyết thành lập Bộ Kiến trúc - nay là Bộ Xây dựng. Từ đó đến nay, ngày 29/4 hàng năm đã trở thành ngày truyền thống của ngành Xây dựng Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước với sự nỗ lực của toàn thể cán bộ, công nhân viên chức và người lao động trong suốt chặng đường 60 năm qua, ngành Xây dựng Việt nam đã đạt được nhiều thành tựu xuất sắc góp phần vào những thắng lợi to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Trong quá trình phát triển 60 năm ấy, ngành Xây dựng đã đạt được những kết quả quan trọng:

Thời kỳ trước năm 1975

Ngay sau khi thành lập Bộ kiến trúc (1958) tổ chức bộ máy của ngành Xây dựng đã nhanh chóng kiện toàn, đội ngũ CBCNV được phát triển về số lượng và chất lượng, Ngành đã tự thiết kế các công trình dân dụng, công nghiệp và đã trực tiếp thi công hàng trăm công trình lớn, nhỏ góp phần phát triển kinh tế-văn hoá và xã hội miền Bắc XHCN.

Công tác quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn được quan tâm nhằm phục vụ công tác xây dựng mới các đô thị trên miền Bắc sau nhiều năm không được đầu tư và bị chiến tranh tàn phá, trong đó có quy hoạch Thủ đô Hà Nội và một số khu công nghiệp tập trung ... 

Từ năm 1964 đến năm 1973 Quân đội Mỹ đã 2 lần tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta bằng không quân. Ngành xây dựngđã chuyển hướng nhiệm vụ, đưa lực lượng công nhân, cán bộ sang phục vụ chiến đấu chống chiến tranh phá hoại. Gần 2 vạn cán bộ, công nhân của Ngành đã gia nhập lực lượng vũ trang, trực tiếp chiến đấu trên chiến trường.Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, hàng ngàn cán bộ, công nhân của ngành Xây dựng đã anh dũng hy sinh ngay trên công trình khi đang làm nhiệm vụ và trên các nẻo đường phục vụ chiến đấu.

Thời kỳ năm 1975-1990

Sau chiến thắng Mùa Xuân  1975 , đất nước hoàn toàn độc lập, thống nhất, tiến lên Chủ nghĩa Xã hội, cả nước bước sang thời kỳ mới, thời kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH. Ngành Xây dựng đã nhanh chóng tổ chức, tập hợp sắp xếp và điều tiết lại lực lượng xây dựng trong cả nước, hình thành bộ máy quản lý và các tổ chức xây dựng ở phía Nam, tăng cường năng lực các tổ chức xây dựng ở phía Bắc để thực hiện nhiệm vụ khôi phục nền kinh tế.

 Thời kỳ này, đất nước còn nhiều khó khăn; tình hình an ninh- quốc phòng có nhiều biến động, biên giới và hải đảo có diễn biến phức tạp, thiên tai liên tiếp xảy ra trên quy mô lớn ở miền Bắc và miền Trung, đời sống nhân dân rất khó khăn. Từ thực tiễn và nhiệm vụ được giao,ngành Xây dựng đã tập trung mọi nguồn lực, giải quyết nhiều nhiệm vụ quan trọng góp phần tăng cường tiềm lực cho nền kinh tế cả nước và bảo vệ vững chắc biên giới của Tổ quốc

Ngành Xây dựng đã đi đầu trong sự nghiệp xây dựng kiến thiết lại đất nước. Những kết quả trong giai đoạn này đã gắn liền với sự trưởng thành nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng đội ngũ những người xây dựng.­­­­­­­­­­­­­­­Trong giai đoạn này các công trình nỗi bật do ngành thi công là các công trình trọng điểm của Nhà nước như Thuỷ điện Hòa Bình, Thuỷ điện Trị An, Xi măng Hoàng Thạch, Xi măng Bỉm Sơn, Bệnh viện nhi Thụy Điển, Bệnh viện Đồng Hới, Trạm vệ tinh Hoa Sen, các khu nhà ở Hà Nội,… và nhiều công trình quan trọng khác.

Thời kỳ 1990 đến nay

Thực hiện đường lối đổi mới theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI và các Nghị quyết tiếp theo, sau hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã vượt qua khủng hoảng kinh tế, giữ vững định hướng XHCN, đã có những phát triển vượt bậc, toàn diện về chính trị- kinh tế- xã hội và an ninh quốc phòng. Đời sống nhân dân được nâng cao, cơ sở vật chất cho nền kinh tế được xây dựng ngày càng phát huy tác dụng.

Với tinh thần lao động cần cù, sáng tạo, vượt mọi khó khăn, ngành Xây dựng đã có những chuyển biến vượt bậc, tạo được thế và lực để bước vào thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại hoá;đó là:

 Tập trung xây dựng Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực của ngành Xây dựng như : Luật Xây dựng, Luật quy hoạch đô thị, Luật Nhà ở, Luật kinh doanh bất động sản …và nhiều Nghị định của Chính phủ về cơ chế, chính sách trên tất cả lĩnh vực hoạt độngxây dựng tạo nên khung pháp lý đồng bộđể phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước, đảm bảo phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đổi mới cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng theo hướng phân định rõ quản lýNhà nước và quản lý sản xuất kinh doanh. Phân định rõ trách nhiệm các chủ đầu tư trong nền kinh tế nhiều thành phần trong hoạt động xây dựng; tập trung nâng cao quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng.Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, kinh doanh các lĩnh vực xây dựng, khuyến khích cạnh tranh, tăng tính chủ động sáng tạo để thúc đẩy và đổi mới công nghệ, thúc đẩy việc hình thành thị trường xây dựng có sự quản lý của Nhà nước.Từng bước cơ cấu lại ngành xây dựng theo hướng một ngành kinh tế- kỹ thuật phục vụ đắc lực cho phát triển toàn diện của đất nước.Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính trong các cơ quan hành chính Nhà nước.

Trong công tác quy hoạch, xây dựng chiến lược, định hướng phát triển các lĩnh vực của ngành đã được triển khai góp phần nâng cao hiệu quả quản lý ở cấp vĩ mô, phục vụ  đã có hơn 9.100 xã được phê duyệt quy hoạch xây dựng nông thôn mới theo hướng dẫn của ngành Xây dựng.

Lực lượng sản xuất trong xây lắpđã được sắp xếp lại và củng cố, tiếp tục đầu tư chiều sâu để đổi mới công nghệ, tăng năng lực sản xuất, khả năng cạnh tranh của các sản phẩm xây dựng, chuẩn bị những từng bước hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.

Các công ty Tư vấn thiết kếnhanh chóng chuyển sang loại hình doanh nghiệp cổ phần,doanh nghiệp tư nhân, đã trở thành lực lượng có vai trò không nhỏ trong sự phát triển của Ngành. Các công trình do ngành XD thi công trong giai đoạn này là các công trình có quy mô rất lớn như: các công trình thủy điện Yaly, Sông Hinh, Phú Mỹ, Phả Lại 2, Sơn La, Lai Châu; các công trình xi măng như Bút Sơn, Nghi Sơn, Hoàng Mai…Nhà Quốc hội, Cung hội nghị quốc tế, nhà ga T1 cảng hang không nội bài …nhiều nhà cao tầng cho văn phòng, chung cư cao cấp, phức  hợp thương mại, nhiều cơ sở lưu trú du lịch đạt đẳng cấp quốc tế .. các đường cao tốc,Nhiều cầu lớn.

Công tác quản lý và phát triển đô thịđã được Nhà nước quan tâm; đã xây dựng chiến lược phát triển đô thị quốc gia. Hệ thống đô thị của cả nước hiện nay có765đô thị các loại:02 đô thị loại đặc biêt, 12 đô thị loại I, 10 đô thị loại II, 47 đô thị loại III, 42 đô thị loại IV và 640 đô thị loại V. Tỷ lệ đô thị hóa trung bình cả nước là 35%. Các đô thị đã thực sự đóng vai trò trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, tiếp tục khẳng định vai trò là động lực phát triển kinh tế, là hạt nhân thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở mỗi địa phương, mỗi vùng và cả nước.Bộ mặt kiến trúc, cảnh quan đô thị đã thay đổi theo hướng tích cực. Nhiều khu đô thị mới, khu nhà ở, phức hợp: ở- thương mại- dịch vụ- khu du lịch cao cấp ra đời tại các đô thị, đã nhanh chóng tiếp cận trình độ khu vực.Tuy nhiên các đô thị lớn nhanh chóng, bộc lộ nhược điểm về giao thông đô thị, vệ sinh môi trường.

Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thịđược đầu tư khá đồng bộ bằng nhiều nguồn vốn, tập trung. Chất lượng phục vụ của hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị được cải thiện rõ rệt. Lĩnh vực ưu tiên là cấp nước sạch, thoát nước và vệ sinh môi trường. Đến nay, tỷ lệ dân đô thị được cấp nước qua hệ thống cấp nước tập trung đạt khoảng 78%; tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn đạt khoảng 83,5% tại khu vực đô thị.

Để cụ thể hóa Luật Nhà ở, Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển nhà ở Quốc gia đến năm 2020,tầm nhìn đến năm 2030. lần đầu tiên chúng ta có được Chiến lược quốc gia về nhà ở với nhiều quan điểm và cách tiếp cận mới là: "Giải quyết vấn đề nhà ở là trách nhiệm của Nhà nước, của xã hội và của người dân".Đến năm 1993 đã chấm dứt chế độ bao cấp về nhà ở,đồng thời ban hành chính sách giải quyết chế độ hỗ trợ về nhà ở cho người có công với cách mạng, chính sách hỗ trợ về nhà ở cho cán bộ tiền khởi nghĩa, chương trình hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở.

Công nghiệp vật liệu xây dựng là lĩnh vực có bước phát triển vượt bậc, các doanh nghiệp đã tập trung đầu tư công nghệ hiện đại, chuyển dịch cơ cấu sản phẩm theo hướng tăng các sản phẩm có chất lượng và hàm lượng khoa học công nghệ cao, thay thế nhập khẩu, hướng mạnhsang xuất khẩu. Các sản phẩmvật liệu xây dựng đã được xuất khẩu tới hơn 100 nước trên thế giới.

Về Nguồn nhân lực: Qua 60 năm, từ lúc được thành lập với đội ngũ vừa thiếu vừa yếu về cơ sở vật chất, con người, ngành Xây dựng không ngừng trưởng thành và phát triển. Đến nay lực lượng toàn ngành đã có trên 350.000 người; trong đó thuộc trung ương trên 230.000 người, thuộc địa phương trên 120.000 người. Về cán bộ khoa học, kĩ thuật chuyên môn, nghiệp vụ có trên 43.000 người. Cán bộ trình độ đại học, sau đại học toàn ngành có trên 20.000 người.

Qua 60năm liên tục phát triển, ngành Xây dựng đã góp phần to lớn vào việc hoàn thành các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của đất nước, từng bước đổi mới, phát triển và hội nhập khu vực và quốc tế. Những thành tựu đạt được đã khẳng định vai trò của ngành Xây dựng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mang lại niềm tự hào cho các thế hệ tiếp nối trong ngành Xây dựng Việt Nam

43 năm trưởng thành và phát triển ngành Xây dựng Bình Định

Đóng góp vào truyền thống vẻ vang, hòa cùng thành tích chung cuả ngành Xây dựng Việt nam, Ngành xây dựng Bình định đã nỗ lực hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ của mình trong 43 năm qua, góp phần xây dựng và phát triển tỉnh Bình định ngày càng giàu đẹp.

Ngày 06/11/1975, UBND Cách mạng tỉnh Bình định đã ban hành Quyết định số 112/QĐ- UBND v/vthành lập Ty Xây dựng Bình Định.Năm 1976, sau khi hợp nhất 02 tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi,thành lập Ty Xây dựng tỉnh Nghĩa Bình.

Từ năm 1976 đến 1989; công tác trọng tâmthời kỳ này là tổ chức bộ máy, xây dựng lực lượng và ổn định đời sống cho cán bộ,công nhân viên.

Vềtổ chức bộ máy và lực lượng sản xuất; trên cơ sở hiện trạng  vàyêu cầu của nhiệm vụ được giao,Ty Xây dựng Nghĩa Bình đã trình UBND tỉnh thành lập 19 đơn vị trực thuộc.

Tính đến đầu năm 1989 (trước khi tái lậptỉnh) ngành Xây dựng Nghĩa Bình có 16 đơn vị sản xuất kinh doanh và 03 đơn vị sự nghiệp trực thuộc.

Tổ chức bộ máy tại các huyện, thịtrong Tỉnh;trong giai đoạn đầu (1976-1980), đã xây dựng được bộ phận quản lý chuyên ngành tại các huyện, thị của tỉnh gồm 15/17 Ban Công nghiệp - Xây dựng - Giao thông. Lực lượng sản xuất trực tiếp gồm 15 Xí nghiệp Xây dựng và 11 Xí nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng quốc doanh trực thuộc địa phương quản lý và các hợp tác xã, tổ hợp tác xây dựng.Từ năm 1981, các đơn vị hành chính cấp huyện có Phòng Xây dựng, còn lại một số huyện chưa thành lập phòng Xây dựng mà vẫn trong cơ cấu tổ chức Ban Công nghiệp.

Trong thời kỳ này, ngành Xây dựngNghĩa Bình - Bình Địnhđãthiết kế- thi công xây lắp đưa vào sử dụng nhiều công trình cơ sở vật chất phục vụ sản xuất, đời sống và điều hành của Đảng và Nhà nước.Ngànhxây dựng còn tập trung thực hiện tốt những công trình trọng điểm của tỉnh nhà:công trình nhà máy thuỷ điện Vĩnh Sơn và công trình hệ thốngthủy lợi Thạch Nham;Hồ thủy lợi Núi Một….

Lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng

Từ chỗ gần như không có cơ sở sản xuấtcó quy mô đáng kể nào, đến 1989 đã hình thành được ngành công nghiệp vật liệu xây dựng với tốc độ phát triển khá nhanh, phục vụ thiết thực cho nhu cầu xây dựng trong tỉnhsản xuất, chất lượng đã có nhiều tiến bộ, lực lượng lao động cũng phát triển hơn 6.500 người.

Năm 1988 Ngành xây dựng đã trực tiếp tổ chức thi công xây dựng công trình Nhà ở và chiến đấu cho bộ đội Hải quân tại đảo Đá lớn, huyện Trường Sa, tỉnh Phú Khánh,đây là công trình mang ý nghĩa đặc biệt thể hiện sự gắn bó giữa Chính quyền và nhân dân trên đất liền với cán bộ chiến sỹ nơi biên cương hải đảo. Thời kỳ này, đã giúp đỡ Lào và Cam puchia xây dựng các cơ sở vật chất khôi phục kinh tế- xã hội sau chiến tranh, như:Tại Chămpasắc (Lào), đã xây dựng xưởng chế biến dược phẩm, xưởng sản xuất gạch ngói và đào tạo công nhân sản xuất gạch ngói cho bạn. Tại Ratanakiri (Campuchia) xây dựng Nhà làm việc Tỉnh ủy, Nhà làm việc UBND tỉnh, Bưu điện, hệ thống cấp nước tại Bung Lung, Cửa hàng Bách hóa tổng hợp…

Lĩnh vực quy hoạch - khảo sát - thiết kế

Buổi đầu mới hình thành, lực lượng cán bộ còn mỏng, trình độ chuyên môn còn hạn chế, nhưng ngành đã nỗ lực, phấn đấu vươn lên hoàn thành nhiệm vụ.Công tác nghiên cứu, tổ chức lập quy hoạch xây dựng, đô thị, phân vùng xây dựng: đã tiến hành quy hoạch xây dựng chung thị xã Quy Nhơn và Quảng Ngãi, các huyện lỵ, các khu kinh tế mới và một số điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.Đến cuối năm 1979, đã hoàn thành quy hoạch chung 2 thị xã, một số huyện lỵ

Công tác khảo sát: Đã đo đạc, thành lập bản đồ tỉ lệ 1/2.000 và 1/500 hàng ngàn hecta phục vụ cho công tác quy hoạch.Công tác thiết kế:Mặc dù lực lượng còn mỏng và gặp rất nhiều khó khăn về trang thiết bị, nhưng Ngành đã đảm nhận thiết kế hầu hết các công trình dân dụng - công nghiệp, một số công trình quan trọng như Bảo tàng Quang trung, sân vận động Quy nhơn, Chợ lớn Quy nhơn.Nhà làm việc các ban Đảng của Tỉnh ủy…

Lĩnh vực quản lý nhà đất và công trình công cộng

Năm 1980 UBND tỉnh Nghĩa Bình có Quyết định sáp nhập Ty Nhà đất vàcông trình công cộngvào Ty Xây dựng Nghĩa Bình.  Đã tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm:tổ chức quản lý quỹ nhà sở hữu nhà nước.

Về lực lượng lao động

Sau ngày giải phóng, trên địa bàn toàn tỉnh chỉ còn một số nhà thầu nhỏ. Đến 1985 lực lượng xây dựng của khu vực quốc doanh và tập thể phát triển khá mạnh với số lao động 7.193 người (quốc doanh 2.121 người, tập thể chuyên nghiệp 1.322 người, tập thể không chuyên nghiệp 3.750 người) chủ yếu tập trung ở thị xã Quy Nhơn, thị xã Quảng Ngãi và các huyện đồng bằng.

Ngành Xây dựng Bình Định phát triểnmạnh mẽ  trong thời kỳ đổi mới của đất nước(1990 – đến nay)

Từ năm 1990 đến nay, tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng, từng bước xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa.Với đường lối chủ động hội nhập với thế giới trên cơ sở giữ vững  độc lập tự chủ, đất nước đã vượt qua bao thử thách và thu được nhiều thành tựu quan trọngvề kinh tế-xã hội và an ninh quốc phòng.Giai đoạn 2006 – 2015là giai đoạn hội nhập và phát triển mạnh mẽ. Với việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã  đem lại những kết quả tích  cực  và  có  những  tác  động  sâu sắc  đến  kinh  tế và  xã hội.

Từ sau khi tái lập tỉnh Bình định, kinh tế- xã hội của tỉnhcó nhiều chuyển biến và phát triểnmạnh mẽ.Vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản thuộc nhiều thành phần kinh tế tăng dầncác năm, nhiều dự án trọng điểm, công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị được đầu tư xây dựng, bộ mặt đô thị và nông thôn của tỉnh ngày một thay đổi. Kế thừa những thành tựu đạt được, ngành Xây dựng  Bình Định đã có những bước phát triển đột pháthông qua sự mở rộng, đa dạng hóa các lĩnh vực hoạt động.

Về tổ chức lực lượng sản xuất ngành xây dựng

Trong thời kỳ nàycó11 đơn vị. Từnăm 1997 , các đơn vị thực hiện sắp xếp lại theo hướng cổ phần hoá hoặc giao, bán cho người lao động để hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả;cụ thể:

Giải thể 2 công ty xây dựng và 1đơn vị sự nghiệp;sáp nhập 2 công ty sản xuất vật liệu xây dựng về tổng công ty do TW quan lý;cổ phần hóa 5 công ty. Đến 2010 ngành Xây dựng không trực tiếp lãnh đạo các công ty sản xuất kinh doanh, bộ máy chỉ còn Khối hành chính (Khối Văn phòng sở xây dựng) và 2 đơn vị sự nghiệp trực thuộc.

Đến 2018 trên địa bàn tỉnh có 668 doanh nghiệp hoạt động xây dựng. Trong đó đã có 180 doanh nghiệp được xét cấp chứng chỉ năng lựctheo Quy định.

Công tác quản lý Nhà nước tại các địa phương

Giai đoạn nàytập trung thể chế hóa chủ trương bằng các văn bản quy phạm pháp luật áp dụng trên địa bàn. Đã thực hiện phân cấp quản lý cho cấp huyện trên một số lĩnh vực.Thành lập các Ban Quản lý dự án đầu tư & xây dựng khu vực, đã đề xuất sắp xếp lại,mỗi huyện, thành phố chỉ còn 1 Ban QLDA Đầu tư & Xây dựng hoạt động chuyên nghiệp

Công tác quy hoạch:Ngành đã tham mưu UBND tỉnh tổ chức 03hội nghị đô thị toàn tỉnh (lần thứ I năm 1991, lần thứ II năm 1996, lần thứ 3 năm 2006)

Tập trung hoàn chỉnh quy hoạch chung xây dựng cho các huyện và quy hoạch chi tiết cho các vùng trọng điểm của tỉnh. Tổ chức lậptiến hành lập Quy hoạch chung thành phố Quy Nhơn (năm 1991) và điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Quy Nhơn vào năm 1997, 2004; Lập quy hoạch chung thành phố Quy nhơn và vùng phụ cận đếan 2035 (2015); Phối hợp với các địa phương và chỉ đạo các đơn vị của ngành tiến hành quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch cho tất cả các huyện lỵ, thị trấn.Trên cơ sở đó hàng trăm khu dân cư mới, khu tái định cư được đầu tư xây dựng; các khu công nghiệp và cụm công nghiệp, các trung tâm thương mại - dịch vụ và nhiều tuyến du lịch trọng điểm được hình thành;nhiều tuyến đường (đường Tỉnh và liên xã, liên thôn) cùng các hệ thống hạ tầng kỹ thuật được đầu tư nâng cấp và xây dựng mới ... góp phần quan trọng làm thay đổi bộ mặt các vùng đô thị và nông thôn của tỉnh.

Về kiến trúc:các dự án chỉnh trang đô thị, nâng cấp cảnh quan đô thị tại các đô thị lớn như Quy Nhơn, An Nhơn, Phú Phong và Bồng Sơn qua đó đã làm thay đổi rõ rệt,bộ mặt các đô thị, điển hình như dự án đường Xuân Diệu, đường Nguyễn Tất Thành nối dài, Quốc lộ 1D, thành phố Quy Nhơn; đường Lê Hồng Phong, đường Trần Phú thị xã An Nhơn; đường Bạch Đằng thị trấn Bồng Sơn; Khu đê bao sông Côn, thị trấn Phú Phong. Các không gian công cộng đô thị được đầu tư đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cộng đồng, thu hút du khách như quảng trường Nguyễn Tất Thành, quảng trường Quang Trung thành phố Quy Nhơn, khu vực Bảo tang Quang Trung-thị trấn Phú Phong. Nhiều công trình xây dựng mới góp phần tô điểm cho không gian đô thị và diện mạo kiến trúc thành phố Quy Nhơn như: Trung tâm Quốc tế khoa học và giáo dục liên ngành, Quần thể khu du lịch FLC Nhơn Lý, quần thể các khách sạn cao cấp tại khu đô thị Tây đường An Dương Vương, dọc đường Xuân Diệu, tòa nhà Trung tâm hành chính Quy Nhơn….Các công cụ pháp lý về quản lý kiến trúc cũng được hoàn thiện và có tính hiệu lực hơn thông qua các Quy chế kiến trúc, các đồ án thiết kế đô thị riêng.

Về Lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật đô thị: Trước sự phát triển nhanh của các đô thị trong tỉnh, yêu cầuvề chất lượng cuộc sống nhân dân ngày càng cao, đã đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết, trong đó có vấn đề đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị.Các quy hoạch chuyên ngành như quản lý chất thải rắn, cấp nước sạch , định hướng thoát nước đô thị trên toàn tỉnh đã được lập.

Về sản xuất nước sinh hoạt; tổng công suất cấp nước toàn tỉnh đến cuối năm 2017 đạt 77.920 m3/ ngày - đêm, tất cả đô thị trong tỉnh đều được cấp nước sạch,tỷ lệ dân cư đô thị toàn tỉnh được cung cấp nước sạch đạt 78%; riêng thành phố Quy Nhơn tỷ lệ dân cư đô thị được cung cấp nước sạch là 96,38%.Từ nguồn vốn vay Ngân hàng Thế giới (WB) đầu tư các công trình cấp nước sạch cho 9thị trấn, thị tứ trong tỉnh đã nâng chất lượng cuộc sống người dân. Đến nay, dự án đã cung cấp nước sạch cho 28.760 hộ gia đình, tăng gần 1,6 lần trong vòng 09 năm nhu cầu đang tăng nhanh chóng.

Đã hoàn thànhdự án Nhà máy xử lý nước Hà Thanh công suất 29.000m3/ngày – đêm theo hình thức Hợp đồng BOO.Hiện nay đang chuẩn bị đầu tư Nâng cấp công suất nhà máy nước Phú Phong - Tây Sơn, xây dựng mới Nhà máy nước phường Nhơn Hòa - An Nhơn công suất 2900 m3/ngày - đêm, Nhà máy nước Quy Nhơn công suất 60.000 m3/ngày-đêm.

Thoát nước-vệ sinh môi trườngđô thị; hầu hết các đô thị trên địa bàn tỉnh đều có hệ thống thoát nước mưa, về cơ bản đáp ứng yêu cầu thoát nước ở đô thị.Đã hoàn thành giai đoạn 1 của DAVSMT TP. Quy nhơn, đang triển khai giai đoạn 2.Đến cuối năm 2017, tổng lượng nước thải đã được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường là 3.910.638 m3.Các đô thị đều có đơn vị dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn; đến hết năm 2017, tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đạt 78%, riêng địa bàn nội thành thành phố Quy Nhơn tỷ lệ thu gom 100%. Các khu, cụm công nghiệp đãđầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Về chiếu sáng và cây xanh đô thị; Hầu hết các đô thị đều tổ chức quản lý, phát triển công viên cây xanh và hệ thống chiếu sáng, ngày càng đi vào nề nếp và đúngquy hoạch.

Về phát triển đô thị; sau năm 2005là giai đoạn tăng tốc mạnh,năm 1995 tỉ lệ đô thị hóa tỉnh ta chỉ đạt 21%,đến 2017  tỷ lệ đô thị hóa đạt 32,6%. Về loại  và quy mô đô thị;thành phố Quy Nhơn được nâng từ đô thị loại II lên loại I vào năm 2010; thị trấn Bình Định và Đập Đá (thuộc huyện An Nhơn trước đây) và thị trấn Bồng Sơn được công nhận đô thị loại IV vào năm 2010; thị trấn Phú Phong được công nhận đô thị loại IV năm 2015; xã Mỹ Chánh được công nhận đô thị loại V vào năm 2016; xã Tây Giang được công nhận đô thị loại V vào năm 2017. Vậy đến thời điểm hiện nay tỉnh Bình Định có 16 đô thị. Công tác xây dựng và phát triển đô thị được thực hiện một cách có khoa học hơn thông qua các chương trình phát triển đô thị, khu vực và kế hoạch thực hiện khu vực phát triển đô thị.

Lĩnh vực quản lý nhà và thị trường bất động sản: Ngành đã tham mưu phát triển quỹ nhà ở tại các đô thị đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về số lượng và chất lượng, bằng cách quy hoạch các khu dân cư mới để giao đất cho cán bộ và nhân dân tự xây dựng nhà ở, ổn định và cải thiện cuộc sống. Các khu dân cư mới được xây dựng theo quy hoạch trên nhiều đô thị, trung tâm xã đã làm hiện đại hóa bộ mặt đô thị - nông thôn. Hiện nay đang tập trung đẩy mạnh xây dựng Nhà ở xã hội, trọng tâm là nhà ở thu nhập thấp, các chính sách nhà nước hỗ trợ về nhà ở cho các đội tượng xã hội. Phát triển chung cư tại đô thị lớn, cải tạo xây dựng ại các chung cư cũ không đủ điều kiện sử dụng.Từng bước thu thập số liệu để giám sát thị trường bất động sản trong tỉnh.

Lĩnh vực phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng: Đãlập quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng theo từng giai đoạn (1990 đến 1995, 2000, 2010 và 2020), tương xứng với tiềm năng, đáp ứng với nhu cầu xây dựng, phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng, đáp ứng cơ bản về nhu cầu xây dựng của tỉnh và đang mở rộng thị trường ra các tỉnh bạn.

Lĩnh vực quản lý xây dựng;đã tham mưu UBND tỉnh ban hành kịp thời nhiều văn bản pháp quy để hướng dẫn, thực hiện các Nghị định, của Chính phủ và các quyết định, thông tư của BộXây dựngvề công tác đầu tư và xây dựng trên địa bàn tỉnh. Từngbước đưa các công tác chuẩn bị đầu tư và thực hiện đầu tư xây dựng đi vào nề nếp, nâng cao chất lượng các dự án, giảm thiểu sự thất thoát và tăng cường kỷ cương trong xây dựng... Các biện pháp và thiết bị thi công tiên tiến đã được đưa vào ứng dụng để nâng cao năng suất lao động, chất lượng công trình và hiệu quả đầu tư. Năng lực hành nghề xây dựng của các doanh nghiệp được nâng cao, đảm đương thi công nhiều dự án đầu tư có quy mô lớn đảm bảo chất lượng và thẩm mỹ.

Công tác thẩm định thiết kế - dự toán công trình; qua thẩm địnhđã cắt giảm tiết kiệm cho ngân sách hàng chục  tỉ đồngmỗi năm. Đã xây dựng, trình UBND tỉnh ban hành các bộ đơn giá xây dựng cơ bản của tỉnh vào các năm 1993, 1998, 2003 và hướng dẫn thực hiện, làm cơ sở cho công tác lập, thẩm tra, thanh quyết toán công trình xây dựng; phối hợp với các ngành có liên quan thông báo giá vật liệu xây dựng hàng tháng phục vụ kịp thời công tác xây dựng cơ bản của tỉnh.

Về lực lượng lao động; chất lượng cán bộ kỹ thuật ngày càng được nâng cao, đáp ứng các yêu cầu về trình độ quản lí, trình độ kỹ thuật chuyên môn, chính trị và ngoại ngữ, ... Chất lượng đội ngũ công nhân kỹ thuật cũng được đổi mới, từ tác phong công nghiệp đến cơ cấu ngành nghề. Hầu hết các công trình xây dựng quy mô lớn, các sản phẩm vật liệu xây dựng kĩ thuật cao, ... do trong nước hoặc nước ngoài đầu tư đều do bàn tay của người công nhân ngành Xây dựng thực hiện.

Những thành quả ngành Xây dựng Bình định đạt được trong quá trình xây dựng, phát triển và trưởng thành 43 năm qua; trước hết là nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt của Tỉnh ủy, sự quan tâm chỉ đạo của các đồng chí Lãnh đạo bộ Xây dựng,  Hội đồng nhân dân tỉnh, sự chỉ đạo điều hành sâu sát của UBND tỉnh; sự phối hợp tích cực của các sở, ban , ngành, các cấp uỷ Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân ở địa phương. Đó là kết quả của toàn ngành đã quán triệt mục tiêu nhiệm vụ, kiên trì phấn đấu thực hiện nghiêm túc đường lối, chính sách của Đảng đã được chỉ rõ trong các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc, Nghị Quyết của Đại hội tỉnh Đảng bộ qua các kỳ. Đồng thời, là do sự nỗ lực không ngừng của cán bộ, công chức, công nhân trong ngành, đoàn kết trên dưới một lòng, lao động cần cù, sáng tạo; vượt mọi khó khăn gian khổ, vươn lên hoàn thành những nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao phó.


Thùy - VP sở  (Cập nhật ngày 27-04-2018)    



Các tin liên quan:
  Hội thi "Tiếng hát ngành Xây dựng" (24-04-2018)
  Tổng kết Cuộc vận động Sáng tác ca khúc về ngành Xây dựng (11-04-2018)
  Hội nghị triển khai nhiệm vụ công tác Đảng bộ Sở Xây dựng năm 2018 (09-02-2018)
  Viếng thăm Mẹ Việt Nam anh hùng và học sinh vùng bị lũ lụt năm 2018 tại huyện Tuy Phước; Nhân dịp Xuân Mậu Tuất (06-02-2018)
  Kỷ niệm 87 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20/10/1930-20/10/2017) (23-10-2017)
  Đại hội các Chi bộ thuộc Đảng bộ Sở Xây dựng (24-07-2017)
  Đại hội đảng viên Chi bộ 3, làn thứ V, nhiệm kỳ 2017 – 2020 (11-07-2017)
  Đại hội đảng viên Chi bộ 1, nhiệm kỳ 2017-2020 (07-07-2017)
  Đại hội đại biểu Công đoàn Sở Xây dựng nhiệm kỳ 2017-2022 (22-05-2017)
  Công đoàn thành viên Khối Văn phòng Sở tổ chức Đại hội lần thứ II, nhiệm kỳ 2017-2022 (03-04-2017)
 
Xem tốt với trình duyệt IE 7.0+, Firefox 3.0+, Google Chrome 2.0+
Trung tâm Ứng dụng CNTT & Viễn thông Bình Định (ITA)
Công nghệ eGovWeb CMS do ITA phát triển